Lý thuyết trường từ vựng

Lý thuyết trường từ vựng

như vậy hoặc giống nhau hoặc song hành với nhau trong sự biến đổi ý nghĩa và

trong lịch sử của chúng, chúng ảnh hưởng lẫn nhau. Chúng ta cũng biết rằng

những từ này được dùng trong tổ hợp cú pháp giống nhau[5; 243].

Như vậy, những quan niệm về trường từ vựng – ngữ nghĩa đã manh nha

xuất hiện ở vào nửa cuối thế kỷ XIX. Song khái niệm trường và lí thuyết về

trường từ vựng – ngữ nghĩa thực sự được nghiên cứu từ những năm 20 của thế

kỉ XX, bắt nguồn từ những lý thuyết ngôn ngữ học của W. Humboldt và F.De

Saussure. Sau đó các nhà nghiên cứu khác như G. Ipsen(1924), A.Jolles(1934),

W. Porzig(1934),và đặc biệt là J.Trie(1934), theo đánh giá của S. Ullmann:

lịch sử ngữ nghĩa học đã mở ra một giai đoạn mới . J.Trie là người đầu tiên đưa

ra thuật ngữ trường vào ngôn ngữ học. Nhưng ông không dùng khái niệm trường

ngữ nghĩa mà chỉ nói tới trường khái niệm và trường từ vựng. Theo J. Trier, trường

khái niệm là một hệ thống rộng gồm những khái niệm có quan hệ với nhau, được tổ

chức lại xung quanh một khái niệm trung tâm. Mỗi trường khái niệm được các từ

phủ lên trên, mỗi từ tương ứng với một khái niệm. J. Trier đã thử áp dụng quan

điểm cấu trúc vào lĩnh vực từ vựng ngữ nghĩa. Ông cho rằng, trong ngôn ngữ, mỗi

từ tồn tại trong một trường, giá trị của nó là do quan hệ với các từ khác trong trường

quyết định, rằng trường là những hiện thực ngôn ngữ nằm giữa từ (riêng lẻ) với

toàn bộ từ vựng, trường quan hệ với toàn bộ từ vựng cũng như từ quan hệ với

trường của mình [5; 244]. Mặc dù còn có những điểm chưa rõ ràng, cần tranh

luận như sự không phân biệt ý nghĩa của từ với khái niệm, hay quan niệm quá

dứt khoát về ranh giới giữa các trường khái niệm và các vùng khái niệm của

từ với nhaunhưng những đề xuất của J. Trier thực sự là nền móng quan trọng

cho những nghiên cứu về trường từ vựng ngữ nghĩa sau này.

Quan tâm nhiều tới mối quan hệ trường nghĩa giữa các đơn vị từ vựng, Tác

giả L. Weisgerber đưa ra một quan điểm rất đáng chú ý về các trường, cần phải

tính đến các góc nhìn khác nhau mà tác động giữa chúng sẽ cho kết quả là sự

ngôn ngữ hoá một lĩnh vực nào đó của cuộc sống[5; 246].

7

Các trường kiểu của J. Trier và L. Weisgerber là những trường có tính chất đối

vị, gọi tắt là trường trực tuyến (trường nghĩa dọc).

Khắc phục những hạn chế trong quan niệm của J.Trie và L. Weisgerber,

W. Porzig – nhà ngôn ngữ học người Đức đã phân chia trường nghĩa theo

những nguyên tắc khác. Từ năm 1934, W. Porzig đã đề nghị nguyên tắc liên

tưởng. Theo quan niệm của W. Porzig, một từ nào đó xuất hiện thế nào cũng gợi đến

sự tồn tại của những từ khác. Chẳng hạn như từ ăn uống sẽ gợi đến sự tồn tại của từ

miệng, nhưng quan hệ ngược không sảy ra vì miệng không nhất thiết là phải ăn

uống mà còn thực hiện một số hoạt động khác như nói, mắng,dựa trên cơ sở

này, từ vựng được chia ra thành các trường nghĩa cơ bản mà hạt nhân của nó bao

giờ cũng là động từ hoặc tính từ, tức là chúng thường làm vị ngữ trong câu.

Mối quan hệ về nghĩa tạo nên trường từ vựng ngữ nghĩa cũng trở thành một

trong những vấn đề được các nhà ngôn ngữ học Việt Nam quan tâm nghiên cứu

như: Nguyễn Thiện Giáp, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến, Đỗ Việt Hùng

Trong đó, Đỗ Hữu Châu là một trong những tác giả Việt Nam đã có công giới thiệu

khái niệm trường nghĩa đối với ngôn ngữ học nước nhà. Ông định nghĩa trường

nghĩa: Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa đƣợc gọi là một trƣờng nghĩa. Đó là những từ

đồng nhất với nhau về nghĩa.[5; 157]. Quan niệm này lấy tiêu chí ngữ nghĩa làm

cơ sở cho việc phân lập trường nghĩa. Đây là quan niệm có tính chất định hướng

cho các quan niệm về trường nghĩa của các nhà Việt ngữ học sau ông.

Luận văn này chúng tôi lấy quan niệm về trường nghĩa của Đỗ Hữu

Châu làm cơ sở lí thuyết để nghiên cứu.

1.1.2. Phân loại trƣờng nghĩa

Mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các đơn vị từ vựng vốn đa dạng trên những

bình diện khác nhau tạo nên những trường từ vựng – ngữ nghĩa khác nhau.

Dựa trên hai mối quan hệ cơ bản giữa các đơn vị đồng loại của ngôn ngữ là

quan hệ ngang và quan hệ dọc, các nhà ngôn ngữ học phân loại trường từ

vựng ngữ nghĩa: trường từ vựng ngữ nghĩa theo quan hệ ngang (trƣờng tuyến

tính) và trường từ vựng ngữ nghĩa theo quan hệ dọc(trƣờng nghĩa biểu vật và

8

trƣờng nghĩa biểu niệm). Cùng với hai trường nghĩa cơ bản này còn có trường

nghĩa liên tưởng, đây là trường nghĩa độc đáo, đặc sắc của ngôn ngữ.

1.1.2.1. Trƣờng nghĩa tuyến tính

Trường nghĩa tuyến tính là tập hợp các từ ngữ có thể kết hợp với nhau thành

những chuỗi tuyến tính (cụm từ, câu) có thể chấp nhận được trong ngôn ngữ.

Để xác lập nên các trường nghĩa tuyến tính, chúng ta chọn một từ làm

gốc rồi tìm tất cả những từ có thể kết hợp với nó thành những chuỗi tuyến tính

(cụm từ, câu) chấp nhận được trong ngôn ngữ.

Ví dụ trường nghĩa tuyến tính của từ Làm là: nghề nông, nghề giáo, việc, bài

tập, nhanh, chậm, nhƣ mèo mửa (ăn nhƣ rồng cuốn, nói nhƣ rồng leo, làm nhƣ

mèo mửa.) lắm, nhiều, ítcả ngày, cả đêm, quanh năm suốt tháng

Các từ trong trường nghĩa tuyến tính là những từ thường xuất hiện với từ trung tâm

trong các loại ngôn bản. Phân tích ý nghĩa của chúng, chúng ta có thể phát hiện được

những nội dung ngữ nghĩa của các quan hệ cú pháp và tính chất của các quan hệ đó.

1.1.2.2. Trƣờng nghĩa biểu vật

Trường nghĩa biểu vật là một tập hợp những từ đồng nghĩa về ý nghĩa biểu

vật [7; 172]. Hay trường nghĩa biểu vật là tập hợp các từ ngữ đồng nhất với nhau

về nghĩa biểu vật (về phạm vi biểu vật)[23; 192].

Ví như, trƣờng nghĩa biểu vật về mắt, lông mày, mi mắt, mí mắt, con ngƣơi,

giác mạc, võng mạc, nƣớc mắt; mắt to, mắt tròn, mắt lồi, mắt ti hí, mắt híp, mắt

húp, mắt xếch, mắt bồ câu; mắt hạt huyền, mắt trắng dã, mắt nâu, mắt xanh; mắt

mờ, mắt lờ đờ, mắt sáng, mắt tinh, mắt dao cau, mắt hình viên đạn, mắt đa tình, mắt

đong đƣa, mắt lúng liếng, mắt có đuôi; mắt nhắm, mắt mở, mắt ngó, dòm, mắt

trông/nhìn, mắt lƣờm, mắt liếc, mắt đƣa tình,các từ ngữ này cùng nằm trong

trường nghĩa biểu vật về mắt.

Để xác lập trường nghĩa biểu vật, người ta chọn một danh từ biểu thị sự vật

làm gốc, rồi trên cơ sở đó thu thập các từ ngữ có cùng phạm vi biểu vật với danh từ

được chọn làm gốc đó. Ví dụ: với từ chim (danh từ biểu thị sự vật làm gốc), ta thu

thập được các từ đồng nhất về phạm vi biểu vật với chim, như:

9

– Tên gọi các loại chim: chim vành khuyên, chim vàng anh, chim sáo, chim

chào mào, chim gõ kiến, chim cu gáy,

– Giống, tính sinh sản: đực, cái, bố, mẹ

– Các bộ phận trên cơ thể: đầu, mình, chân, cánh, cổ, mỏ, mắt, lông, đuôi, mào

– Tính chất, trạng thái của chim: già, non, xấu, đẹp, mượt, xù, khỏe, yếu

– Hình dáng, kích thước: to, nhỏ,

– Màu sắc (lông, mỏ, chân..): Đen, nâu, vàng, trắng, xanh, đỏ, chì

– Đặc tính, mục đích sử dụng: giống, thịt, cảnh

Tùy theo mục đích của việc huy động từ mà ta có thể lựa chọn số lượng các

tiêu chí để xác lập trường nghĩa. Ví dụ. có thể thêm các tiêu chí liên quan đến

trường nghĩa chim: Nơi cư trú (chim bắc cực, chim nhiệt đới); thức ăn chính của

chim (chim sâu, chim bói cá)

Như vậy, mỗi một trường nghĩa biểu vật thường có từ gốc (từ trung tâm) là

danh từ. Danh từ này có tính khái quát cao, gần như là tên gọi của các phạm trù biểu

vật, như thực vật, động vật, ngƣời, vật thể,

Danh từ biểu thị sự vật làm gốc càng mang ý nghĩa khái quát cao bao nhiêu,

thì trường nghĩa biểu vật càng lớn bấy nhiêu. Trong trường nghĩa biểu vật lớn đó, ta

có thể phân chia thành các trường nghĩa biểu vật nhỏ. Và đến lượt mình, các trường

nghĩa biểu vật nhỏ này cũng có thể phân chia thành các trường nghĩa biểu vật nhỏ

hơn nữa.

Chẳng hạn, trƣờng nghĩa biểu vật về Ngƣời (cơ thể ngƣời)

Đầu

Mình

Tứ chi

Chân

Tay

Cánh tay

cẳng tay

Ngón tay,

lòng bàn tay,

10

bàn tay

mu bàn tay, chỉ tay,

Các trường nghĩa khác nhau có thể có chung một số lượng từ ngữ nhất định.

Các trường nghĩa đó được gọi là các trường nghĩa giao nhau. Ví dụ, trường nghĩa

người và trường nghĩa động vật là hai trường nghĩa giao nhau, vì ngoài những từ

ngữ của riêng từng trường nghĩa, cả hai trường nghĩa này đều có chung một số từ

ngữ về:

– Bộ phận cơ thể: đầu, mình, tứ chi,

– Hoạt động: ăn, uống, đi, chạy, nhảy,

– Kích thước hình dáng: to, nhỏ, cao, thấp, lớn, bé, nặng, nhẹ,

– Trạng thái tâm lý: buồn, đau, vui,

Mức độ giao thoa của các trường tỉ lệ thuận với số lượng từ ngữ chung giữa

các trường với nhau. Và dựa trên quan hệ với trường nghĩa, có thể phân chia từ

vựng thành các từ đơn trường nghĩa và các từ đa trường nghĩa.

1.1.2.3. Trƣờng nghĩa biểu niệm

Trường nghĩa biểu niệm là một tập hợp các từ có chung một cấu trúc nghĩa

biểu niệm[7,178].

Căn cứ để xác lập các trường nghĩa biểu niệm là các ý nghĩa biểu niệm của từ.

Như vậy, để xác lập trường nghĩa biểu niệm, ta chọn một cấu trúc biểu niệm làm

gốc, rồi trên cơ sở đó thu thập các từ ngữ có chung cấu trúc biểu niệm gốc đó.

Ví dụ: ta lấy cấu trúc biểu niệm: (hoạt động) (A tác động vào X) (X tách rời ra)

làm gốc, ta có thể thu thập được các nhóm từ cùng trường nghĩa biểu niệm như sau:

(1) Bẻ, bẹo (bẹo một miếng đất nặn nhỏ), bóc, bứt, dựt, dứt, cắn, tước, xé,

(2) Băm, bổ, chặt, chẻ, chém,

(3) Cắt, gọt, róc, thái,

(4) Hớt, phạt, phay, vạt,

(5) Bào, cưa, cạo, nạo, đẽo, đục, xẻ,

Tùy mục đích xác lập trường nghĩa biểu niệm, người ta có thể bổ xung nét

nghĩa (bằng tay), (dùng loại phương tiện), (X tách rời ra ), (X liền nối lại), Ví

dụ, khi bổ xung nét nghĩa (sử dụng phương tiện) (X tách rời ra ), ta có cấu trúc

11

nghĩa biểu niệm gốc như sau: hoạt động (A tác động vào X)(bằng phƣơng tiện)(X

tách rời ra). Khi đó, số lượng các từ ngữ cùng trường nghĩa tập hợp được sẽ hẹp lại,

bởi những từ ở nhóm 1 sẽ không còn. Khi bổ xung thêm nét nghĩa, làm cho cấu trúc

nghĩa biểu niệm càng cụ thể hơn, thì số lượng từ ngữ cùng trường nghĩa thu được sẽ

ít hơn hẳnNhư vây, số lượng nét nghĩa trong cấu trúc nghĩa biểu niệm được chọn

làm gốc sẽ quyết định số lượng từ ngữ thu thập được. Cấu trúc nghĩa biểu niệm

được chọn làm gốc chứa càng ít nét nghĩa thì số lượng từ ngữ thu thập được càng

nhiều và ngược lại.

Các từ ngữ cùng một trường nghĩa biểu niệm có thể khác nhau về trường

nghĩa biểu vật. Ví dụ. Cục tác, ụt ịt, cạc cạc…có chung cấu trúc nghĩa biểu niệm:

(hoạt động) (phát ra âm thanh), nhưng chúng thuộc về các trường nghĩa biểu vật

khác nhau: cục tác thuộc về trường nghĩa biểu vật gà; ụt ịt thuộc về trường nghĩa

biểu vật lợn; cạc cạc thuộc về trường nghĩa biểu vật vịt.

1.1.2.4. Trƣờng nghĩa liên tƣởng

Trường nghĩa liên tưởng là trường nghĩa tập hợp các từ biểu thị các sự vật,

hiện tượng, hoạt động tính chấtcó quan hệ liên tưởng với nhau.

Ví dụ: từ đêm trăng, ta có thể có trường liên tưởng về đêm trăng như sau:

+ Một bầu trời đầy sao, trăng sáng lung linh

+ Một làng quê thanh bình

+ Sự tích thằng Cuội cây Đa

+ Đêm trăng thề hẹn của đôi lứa yêu nhau

+ Kỷ niệm tuổi thơ êm đềm

+ Tết trung thu

Nếu trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm mang tính khách quan,

chung cho mọi người sử dụng ngôn ngữ, từ đó có thể xây dựng thành các từ điển

trường nghĩa đối với các trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm, thì

trường nghĩa liên tưởng lại khó có thể xây dựng được từ điển các trường nghĩa liên

tưởng, do trường nghĩa liên tưởng mang tính chủ quan cao, có sự khác biệt nhất

định giữa các cá nhân sử dụng ngôn ngữ. Mỗi cá nhân sống trong một môi trường,

thời đại, xã hội khác nhau, với kinh nghiệm sống khác nhau Do đó cũng có

12

những liên tưởng có ở người này nhưng không tồn tại hoặc xa lạ với người khác và

ngược lại. Tuy nhiên, mỗi thời đại, mỗi ngành nghề, mỗi địa phương laị có thể có

một điểm liên tưởng chung nhau. Ví dụ: cùng từ làm, người nông thôn liên tưởng

đến làm ruộng, làm vƣờn, làm cỏ, làm vất vả, Người thành thị liên tưởng đến làm

nghề trong các nhà máy, xí nghiệp, làm theo ca, làm tăng ca, làm cho ông chủ nƣớc

ngoài,. Người thời xưa liên tưởng đến làm việc chân tay, làm với công cụ thô

sơ, Người thời nay (thời hiện đại) liên tƣởng đến làm việc trí óc, làm với máy

móc, thiết bị hiện đại, làm để hƣởng lƣơng cao… Việc nắm bắt được những điểm

chung trong liên tưởng cho mỗi thời đại, mỗi nhóm xã hộilà điều kiện cần thiết để

lí giải những hiện tượng ý tại ngôn ngoại, mượn mây để tả trăng hay các biểu

tượng, biểu trưng văn học nghệ thuật.

1.1.3. Các quan hệ trong trƣờng nghĩa

Mối quan hệ về nghĩa giữa các đơn vị từ ngữ tạo nên trường từ vựng ngữ nghĩa.

Trong một trường từ vựng ngữ nghĩa lại có những mỗi quan hệ nghĩa khác nhau.

Tiêu biểu là quan hệ: quan hệ thượng – hạ nghĩa và quan hệ đồng nghĩa – trái nghĩa.

1.1.3.1. Quan hệ thƣợng – hạ nghĩa

Quan hệ thượng – hạ nghĩa biểu hiện ở quan hệ bao hàm nằm trong.

Những từ có ý nghĩa bao hàm ý nghĩa của các từ khác (từ hạ nghĩa) được gọi

là những từ thượng nghĩa (có quan hệ thượng nghĩa), còn những từ có nghĩa

nằm trong nghĩa của từ khác (từ thượng nghĩa) được gọi là những từ hạ nghĩa

(có quan hệ hạ nghĩa).

Ví dụ:

Động vật

Không có xương sống

Có xương sống

Thú

Chim

Chim sâu

13

chim bói cá .

Từ mô hình trên ta thấy:

– Trong quan hệ giữa động vật với động vật không có xương sống và

động vật có xương sống, thì động vật là quan hệ thượng nghĩa còn động vật

không có xương sống và động vật có xương sống là quan hệ hạ nghĩa.

– Trong quan hệ giữa động vật có xương sống với thú và chim, thì

động vật có xương sống là quan hệ thượng nghĩa còn thú và chim là quan

hệ hạ nghĩa.

– Trong quan hệ giữa chim với chim sâu và chim bói cá, thì chim là quan

hệ thượng nghĩa, còn chim sâu và chim bói cá là quan hệ hạ nghĩa.

Trong sử dụng ngôn ngữ, ta có thể dùng từ ngữ mang quan hệ thượng nghĩa để

biểu thị cho từ ngữ mang quan hệ hạ nghĩa, nhưng không dùng từ ngữ mang quan

hệ hạ nghĩa biểu thị cho từ ngữ mang quan hệ thượng nghĩa.

Bên cạnh quan hệ bao hàm và nằm trong (quan hệ thượng – hạ nghĩa) là quan

hệ quan hệ toàn thể và bộ phận. Khi sử dụng ngôn ngữ, ta cũng cần tránh không

nhầm lẫn hai loại quan hệ này.

Ví dụ. Vào cửa hàng bán chim cảnh, ta có thể chỉ vào con chim Sáo và nói:

bán cho tôi con chim này (thượng nghĩa) thay cho chim Sáo (hạ nghĩa). Nhưng khi

vào cửa hiệu cắt tóc, ta không thể nói: cắt cho tôi cái đầu này, vì đầu và tóc là quan

hệ toàn thể và bộ phận.

1.1.3.2. Quan hệ đồng nghĩa và trái nghĩa

Trường nghĩa được xem là một tiểu hệ thống trong hệ thống ngôn ngữ. Quan

hệ giữa các yếu tố trong một hệ thống ngôn ngữ là quan hệ đối lập. Nhờ vào quan

hệ đối lập này mà ta có thể phân chia các từ ngữ trong cùng một trường nghĩa thành

hai nhóm với hai kiểu quan hệ: quan hệ đồng nghĩa (diễn ra trong cùng một nhóm)

và quan hệ trái nghĩa (diễn ra giữa hai nhóm).

Vídụ. Trường nghĩa về tính cách con người: Tốt, đẹp, xấu, xấu xa, chất

phác, thật thà, gian trá, xảo quyệt, bao dung, độ lƣợng, hẹp hòi, tham lam, ích kỉ,

Dựa vào quan hệ đối lập, ta có thể chia trường nghĩa trên thành hai nhóm:

14

Nhóm từ biểu thị tính tốt > < nhóm từ biểu thị tính xấu

Tốt

xấu

Đẹp

xấu xa

Chất phác

Gian trá

Thật thà

Xảo quyệt

Bao dung

Hẹp hòi

Độ lượng

ích kỉ, tham lam

(quan hệ đồng nghĩa) > <

(quan hệ đồng nghĩa)

(quan hệ trái nghĩa)

Có quan điểm cho rằng: đồng nghĩa là hai hay nhiều từ khác vỏ âm thanh

nhưng giống nhau hoặc gần giống nhau về nghĩa, với quan điểm này thì hiện tượng

nhiều nghĩa của từ không được xem xét. Một quan điểm khác cho rằng: từ đồng

nghĩa là từ có thể thay thế cho nhau trong cùng một văn cảnh. Nhưng như thế lại

sảy ra trường hợp, trong một văn cảnh có những từ ngữ có thể thay thế cho nhau

nhưng không phải là từ đồng nghĩa, ví dụ, cầu thủ số 10 vừa đƣợc tung ra sân và

cầu thủ số 10 vừa đƣợc tung vào sân. Ra và vào vốn là hai từ không đồng nghĩa

(trái nghĩa), nhưng trong ngữ cảnh này thì chúng có thể thay thế cho nhau, vì dùng

ra hay vào thì ta cũng hiểu là cầu thủ số 10 vừa đƣợc tham gia thi đấu trên sân

cùng đồng đội. Hoặc có những từ đồng nghĩa với nhau nhưng lại không thể thay thế

cho nhau, bởi ý nghĩa biểu thái. ví dụ, bố chồng tôi mất cách đây một tuần và bố

chồng tôi toi cách đây một tuần.

Như vậy, có thể định nghĩa từ đồng nghĩa: Hai hay nhiều từ đƣợc coi là đồng

nghĩa với nhau khi chúng cùng thuộc về một trƣờng nghĩa và không chứa những nét

nghĩa đối lập, loại trừ nhau. Khi xét quan hệ đồng nghĩa của một từ ta phải xác

định rõ trường nghĩa của từ đó.

Tương tự, chúng ta có thể định nghĩa từ trái nghĩa: hai hay nhiều từ đƣợc coi

là trái nghĩa với nhau khi chúng cùng thuộc về một trƣờng nghĩa và có chứa những

nét nghĩa đối lập, loại trừ nhau.

15

Quan hệ trái nghĩa sảy ra nhiều ở phạm vi tính từ. ở các từ loại khác muốn giải

thích quan hệ trái nghĩa phải thông qua các tính chất của chúng.

Ví dụ

Có phải duyên nhau thì thắm lại

Đừng xanh như lá, bạc như vôi. Lá và vôi là những danh từ chỉ sự vật

vốn không trái nghĩa với nhau, nhưng khi ta gán cho nó tính chất xanh và bạc

thì lá và vôi trái nghĩa nhau.

1.1.4. Hoạt động của từ ngữ xét về góc độ trƣờng nghĩa

Việc phân loại trường nghĩa không phải là phân loại từ, vì một đơn vị từ

ngữ không chỉ thuộc về một trường nghĩa nhất định mà chúng có thể có mặt ở

những trường nghĩa khác nhau. Những từ ngữ ở dạng này gọi là các từ ngữ

ngoại vi (hướng biên) của trường nghĩa. Các từ ngữ ngoại vi là các từ ngữ

biểu thị những sự vật, hoạt động, tính chất, quan hệ không chỉ thuộc về một

trường nghĩa đó mà còn có thể thuộc về những trường nghĩa khác[23; 196].

Ví dụ, các từ đầu, mình, chân, đuôi, mắt, lông, móngvừa thuộc trường

nghĩa chim vừa thuộc trường nghĩa chuột, thỏ, chó… Cùng với các từ ngữ

ngoại vi là các từ ngữ trung tâm của trường nghĩa. Từ ngữ trung tâm được coi

là hạt nhân của trường nghĩa, bởi đó là những từ ngữ biểu thị các sự vật, hoạt

động, tính chất, quan hệđặc trưng của trường nghĩa đó. Ví dụ, bơi là từ ngữ

trung tâm của trường nghĩa cá, bay là từ ngữ trung tâm của trường nghĩa

chim, cạc cạc là từ ngữ trung tâm của trường nghĩa vịt, cục tác là từ ngữ trung

tâm của trường nghĩa gà.

Quan hệ trường nghĩa giữa các từ ngữ chi phối hoạt động kết hợp với

nhau trong giao tiếp và tạo thành ba kiểu (trường hợp) kết hợp cơ bản là:

– Từ ngữ kết hợp với các từ ngữ trung tâm của trường, ký hiệu là Aa hoặc Bb

Ví dụ. Ếch ộp ộp (có tiếng ếch ộp ộp ngoài đồng = có tiếng ộp ộp ngoài đồng)

Gót chân (gót chân Asin = gót Asin)

– Từ ngữ kết hợp với các từ ngữ ngoại vi của trường, ký hiệu là Aab hoặc Bab.

16

Ví dụ. con chim mỏ màu vàng. Con vịt mỏ dẹt; con gà mỏ rất sắc.

Từ mỏvừa thuộc về trường nghĩa chim, vịt, gà mà không thuộc

riêng một trường nghĩa nào.

– Từ ngữ kết hợp với các từ ngữ trung tâm của trường nghĩa khác, ký hiệu là

Ab hoặc Ba.

Ví dụ. – Trăng vào cửa sổ đòi thơ. (Hồ Chí Minh)

– Hương hoa bay thấu vào (thấu nhập) trong ngục

Kể với tù nhân nỗi bất bình. (Hồ Chí Minh)

Kiểu kết hợp thứ ba chính là hiện tượng chuyển trường nghĩa của từ mà ta dễ

gặp trong các tác phẩm văn chương nghệ thuật. Việc chuyển trường nghĩa của các

từ ngữ có giá trị diễn đạt rất lớn. Một mặt, các từ ngữ được chuyển trường thích ứng

với giá trị biểu đạt của các từ ngữ thuộc trường nghĩa mới, đồng thời chúng mang

theo những sắc thái biểu đạt vốn có của chúng ở trường nghĩa cũ. Điều này làm cho

giá trị biểu đạt của các từ ngữ chuyển trường nghĩa có sức mạnh lớn hơn so với các

từ ngữ được dùng đúng với trường nghĩa của chúng.

Ví dụ, những câu thơ trong bài thơ Đất Nước của Nguyễn Đình Thi.

Ôi những cánh đồng quê chảy máu

Dây thép gai đâm nát cả trời chiều.. những từ chảy máu, đâm nát là

những từ ngữ đã chuyển trường từ trường nghĩa sự vật sang trường nghĩa người. Do

đó đã làm tăng giá trị biểu đạt cho hai câu thơ trên.

1.2. Tín hiệu thẩm mĩ trong nghệ thuật văn chƣơng

1.2.1. Tín hiệu và tín hiệu ngôn ngữ

1.2.1.1. Tín hiệu

Trong đời sống thường nhật, con người luôn sử dụng đa dạng các tín

hiệu vào mục đích giao tiếp, trao đổi thông tin với nhau. Vì vậy, một chuyên

ngành khoa học mang tên Tín hiệu học (Semiology) đã ra đời nhằm nghiên

cứu chuyên sâu về tín hiệu.

Tín hiệu được hiểu là dấu hiệu quy ước để truyền đạt thông tin. Đó là một sự

vật, một hiện tượng kích thích vào giác quan của ta, làm cho ta tri giác được, lí giải

17

Video liên quan

admin